Rối loạn ám ảnh dị hình

Rối loạn ám ảnh dị hình

Rối loạn ám ảnh dị hình là gì ?

Rối loạn ám ảnh dị hình, hay rối loạn dạng cơ thể / mặc cảm cơ thể (Tiếng Anh: Body dysmorphic disorder), là một dạng phổ biến thuộc nhóm các rối loạn ám ảnh cưỡng bức.

Rối loạn ám ảnh dị hình là sự quan tâm thái quá, thậm chí là phóng đại, của một cá nhân đối với một khiếm khuyết, mà đôi khi do bản thân họ tưởng tượng ra, về ngoại hình của mình. Mối quan tâm này thường dẫn đến nhiều hành vi mang tính nghi thức, lặp đi lặp lại nhiều lần, chẳng hạn như quan sát  bản thân gương, hay liên tục so sánh mình với người khác.

Những người mắc chứng rối loạn này luôn có trong suy nghĩ của mình những hình ảnh cơ thể bản thân bị bóp méo. Với họ, ngoại hình đã trở nên quá quan trọng, thâm chí trở thành trung tâm của toàn bộ cuộc sống. Những suy nghĩ thường thấy ở họ có thể là: “Nếu cơ thể của tôi không hấp dẫn, thì cuộc sống này chẳng còn đáng sống nữa”; hay “Nếu tôi có khiếm khuyết về cơ thể, thì tôi sẽ cô đơn suốt đời”; hoặc “Tôi chỉ có thể làm gì đó khi cảm thấy hài lòng với vẻ ngoài của mình”… Những suy nghĩ này được thúc đẩy bởi một loạt các hành vi mang tính xác nhận, chẳng hạn như liên tục kiểm tra bản thân trong gương, hay cải trang để giảm sự chú ý của người khác đến vẻ ngoài của mình, hoặc để cải thiện ngoại hình của bản thân.

Hầu hết những người có rối loạn ám ảnh dị hình đều thấy rằng những lo ngại này rất khó kiểm soát và họ cố gắng rất ít để chống lại chúng.

Những người này dành vài giờ mỗi ngày để suy nghĩ về những “khiếm khuyết” của bản thân, đến mức những suy nghĩ này thậm chí có thể chi phối sự tồn tại của họ. Điều này dẫn đến hậu quả là các chức năng xã hội nói chung bị ảnh hưởng nặng nề : các mối quan hệ xã hội, công việc,… Chẳng hạn như, cảm giác bối rối, tự ti về những “khiếm khuyết” của mình có thể khiến những người này né tránh các tình huống giao tiếp xã hội. Trong một số trường hợp, việc né tránh các hoạt động xã hội thường ngày có thể dẫn đến sự cô lập xã hội.

Ngoài ra, những người này cũng có thể dành vài giờ mỗi ngày chỉ để kiểm tra những “khiếm khuyết” cũng như ngoại hình của bản thân trong bất kỳ tấm gương hay các bề mặt phản chiếu khác mà họ vô tình đi qua. Họ có thể không ngừng chăm chút vẻ ngoài, cơ thể mình, ví dụ như không ngừng chải tóc, nhổ tóc, trang điểm một cách “nghi thức”, xoa, gãi da… Mặc dù thông qua việc thực hiện những hành vi này, họ có thể giảm bớt cảm giác lo lắng, nhưng, trong thực tế, các hành vi này lại thường có thể làm tăng mối quan tâm của cá nhân đến vấn đề đó.

Do đó, một số người có hành vi né tránh những tấm gương, có thể là che chúng lại, cũng có thể là bỏ chúng ra khỏi không gian sống của mình. Một số người lại luân phiên trải qua các giai đoạn liên tục tự kiểm tra hình ảnh bản thân trong gương và các giai đoạn né tránh gương. Họ cũng có thể thường xuyên yêu cầu người khác trấn an, an ủi mình về những khiếm khuyết của bản thân, song, sự giải thoát mà những lời an ủi ấy mang đến cho họ chỉ là tạm thời.

Chẩn đoán Rối loạn ám ảnh dị hình theo Hệ thống chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần DSM-V :

DSM-V, xuất bản năm 2013, đã phân loại rối loạn ám ảnh dị hình nằm trong nhóm các rối loạn ám ảnh cưỡng bức (Mã 300.7). DSM-V cũng thiết lập các tiêu chuẩn chẩn đoán cho rối loạn này :

A. Quá mức để ý đến một hoặc nhiều khuyết điểm về ngoại hình khó có thể thể quan sát được hoặc được xem là nhẹ đối với người khác.

B. Có những hành vi lặp đi lặp lại (ví dụ : soi gương, chải chuốt quá mức, tìm kiếm sự trấn an từ người khác) hoặc những hành vi tinh thần (ví dụ : so sánh ngoại hình của bản thân với người khác) khi có những lo ngại về ngoại hình.

C. Mối quan tâm này dẫn đến những nỗi đau tinh thần, hoặc làm suy giảm các chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các hức năng khác.

D. Mối quan tâm về ngoại hình không thể được lý giải bằng những lo ngại liên quan đến lượng mỡ cơ thể hoặc cân nặng ở người có triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn ăn uống.

Các yếu tố nguy cơ đối với Rối loạn ám ảnh dị hình :

Nhiếu yếu tố nguy cơ khác nhau được giả định liên quan đến sự xuất hiện và phát triển của chứng rối loạn ám ảnh dị hình, bao gồm :

  • Một khuynh hướng di truyền.
  • Sự nhút nhát, cầu toàn hoặc nóng nảy, một phần do yếu tố di truyền quyết định.
  • Những trải nghiệm tiêu cực từ thời thơ ấu, chẳng hạn như bị trêu chọc hay bị bắt nạt do vẻ ngoài hoặc các kỹ năng cá nhân, có các mối quan hệ kém với người khác, bị cô lập xã hội, thiếu sự hỗ trợ của gia đình hoặc bị lạm dụng tình dục.
  • Từng bị kỳ thị về da liễu hoặc cơ thể (ví dụ như mụn trứng cá) ở tuổi thanh thiếu niên.
  • Có thẩm mỹ cao hơn mức trung bình. Điều này có thể dẫn đến một phản ứng cảm xúc mạnh hơn và có những yêu cầu khắt khe hơn về hình ảnh và ngoại hình của bản thân. Do đó, một số người mắc chứng rối loạn này cũng có thể có nhận thức thẩm mỹ tốt hơn người khác.

Rối loạn này thường bắt đầu ở tuổi thiếu niên, và do đó cần đặc biệt chú ý đến các yếu tố nguy cơ trên, chẳng hạn như, việc trêu chọc nhau về ngoại hình thường là hành vi phổ biến ở trẻ em.

Người viết : Hạnh Dung

Tài liệu tham khảo :

  1. American Psychiatric Association (APA), (2013). DSM-V, Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders. Retrieved from https://4.files.edl.io/8c29/04/23/18/201958-1268de6f-75bc-4112-afbf-f83781979af4.pdf
  2. D. Veale, (2004). Review: Body dysmorphic disorder. Retrieved from 
    https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1742928/pdf/v080p00067.pdf
  3. Ferreri M., Godefroy M., Nuss P. & Ferreri F., (2004). Dysmorphophobie. Peurdedysmorphie, dysmorphesthésie. Encycl. Méd. Chir. (Editions Scientifiques et Médicales Elsevier SAS, Paris, tous droits réservés), Psychiatrie, 37-146-A-10, 2002, 8p.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *