Trầm cảm và tự tử!!!

Trầm cảm và tự tử!!!

Hầu hết các vụ tự tử đều có liên quan đến một số dạng rối loạn tâm thần, đặc biệt là trầm cảm, và trầm cảm càng nặng thì nguy cơ càng lớn. Tuy nhiên, hầu hết những người bị trầm cảm nặng không chết bởi chính tay họ. Các nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 5% những người trầm cảm có thể có ý nghĩ về việc tự tử - ý tưởng tự sát. Chỉ một tỷ lệ nhỏ trong số họ chủ động lên kế hoạch kết liễu cuộc đời mình.

1. Làm thế nào để trầm cảm dẫn đến suy nghĩ tự tử?

Nhiều người có ý nghĩ tự tử thoáng qua vào một số thời điểm, là những thời điểm rất khó khăn trong cuộc đời họ. Và họ thường phủ nhận những suy nghĩ đó vì những người thân yêu của họ. Về bản chất, trầm cảm làm suy giảm tính linh hoạt trong nhận thức. Nó thay đổi cấu trúc nhận thức và cảm xúc để những người đang trải qua trầm cảm không thể nhìn thấy lối thoát khỏi trạng thái tâm trí hiện tại của họ hay không thể hình dung ra một khả năng cảm thấy tốt hơn trong tương lai.

Những người bị trầm cảm không chỉ suy nghĩ về tình trạng hiện tại của họ mà còn nghĩ tới tất cả những thất bại họ đã gặp phải, tất cả những mất mát và thất bại trong mối quan hệ, tất cả những trải nghiệm bất lợi ở thời thơ ấu và thậm chí còn bị đè nặng bởi tất cả những điều tiêu cực. Ngoài ra, trầm cảm còn làm họ phóng đại nhận thức về nỗi đau. Những người bị trầm cảm đặc biệt có khả năng coi tự tử là cách duy nhất để thoát khỏi sự đau khổ.

2. Tự tử trong trầm cảm phổ biến như thế nào?

Theo Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, 2% số người từng điều trị trầm cảm ở cơ sở ngoại trú tự kết liễu cuộc sống của mình. Trong số những người đã từng nhập viện để điều trị chứng trầm cảm, tỷ lệ tử vong do tự tử cao gấp đôi (4%).

Trong số những người nhập viện vì trầm cảm vì có ý định tự tử hoặc cố gắng tự tử, 6% cuối cùng đã tự kết liễu cuộc đời mình. Khoảng 60 phần trăm những người tự sát mắc chứng rối loạn tâm trạng có khả năng điều trị được; những người trẻ tuổi tự sát cũng thường mắc chứng rối loạn lạm dụng chất gây nghiện. Các sự kiện trong đời liên quan đến mất mát như: công việc, một mối quan hệ, sức khỏe của người thân - cũng đóng một vai trò nào đó.

3. Khi nào nỗi đau cảm xúc trở nên không thể chịu đựng được?

Một số nhà quan sát cho rằng tự tử không phải là một nỗ lực để kết liễu cuộc sống của họ mà là để thoát khỏi nỗi đau tinh thần bởi những suy nghĩ tiêu cực vô tận, hồi tưởng lại những thất bại trong cuộc sống, chịu đựng sự tự kiểm điểm bản thân liên tục và hình dung ra phía trước chỉ là sự ảm đạm, không có lối thoát đó là những dấu hiệu của bệnh trầm cảm.

Bị từ chối dưới bất kỳ hình thức nào - chia tay mối quan hệ, sự im lặng của một người bạn, sự xa lánh xã hội - là một trong những trải nghiệm khắc nghiệt nhất mà con người có thể chịu đựng và có thể tạo ra nhiều cảm xúc đau đớn đến nỗi nó ngày càng liên quan đến những nỗ lực tự tử ở những người trẻ tuổi. Các nghiên cứu chỉ ra rằng những vùng não bị kích hoạt bởi cơn đau thể xác cũng được kích hoạt khi chúng ta bị từ chối. Nhưng không giống như nỗi đau thể xác, nỗi đau tâm lý có thể lặp lại liên tục trong não; mỗi khi những trải nghiệm như vậy được nhớ lại, nỗi đau được tái hiện trong tất cả cường độ cảm xúc cấp tính của nó.

4. Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ tự tử ở người trầm cảm?

Cũng giống như trầm cảm có thể xảy ra trong gia đình, tự tử cũng có thể xảy ra. Những người trầm cảm có thành viên trong gia đình chết do tự tử có nguy cơ cao tự kết liễu cuộc sống của mình. Những người bị PTSD cũng như trầm cảm có nhiều nguy cơ có ý định tự tử và có ý định tự sát. Tiền sử sang chấn cũng làm tăng nguy cơ tự tử ở những người bị trầm cảm. Bản thân việc sử dụng chất kích thích là một yếu tố nguy cơ chính dẫn đến tự tử, và khi nó đi kèm với chứng trầm cảm, nó sẽ làm tăng thêm nguy cơ cướp đi sinh mạng của một người.

Cô đơn là một yếu tố góp phần đáng kể vào chứng trầm cảm, và những người bị cô lập với xã hội có nguy cơ tự tử cao hơn những người không bị trầm cảm. Vì bộ não không phân biệt giữa đau thể chất và tâm lý, những người bị đau mãn tính cùng với trầm cảm - hoặc bất kỳ bệnh mãn tính nào - có nguy cơ tự tử cao. Hầu hết những người tự tử thành công ở nam giới, nhưng phụ nữ có nguy cơ tự tử cao gấp 4 lần nam giới.

5. Làm thế nào tôi có thể biết liệu tự tử có phải là một rủi ro hay không?

Dấu hiệu cảnh báo rõ ràng nhất về hành vi tự tử là nói về việc muốn chết. Và cách tốt nhất để xác định liệu tự tử có phải là một rủi ro hay không là hỏi. Người ta thường tin rằng việc hỏi trực tiếp ai đó xem họ có nghĩ đến việc tự tử không sẽ khiến họ nảy sinh ý tưởng, nhưng thực tế không phải vậy. Người đó có thể được giải tỏa; họ muốn cảm thấy tốt hơn nhưng không biết làm thế nào.

Những người đang chìm trong hố sâu của sự vô vọng đưa ra manh mối về nguy cơ tự tử trong cách họ nói chuyện. Họ nói về việc không có mục đích, cảm thấy bị mắc kẹt, trở thành gánh nặng cho người khác, hoặc cảm thấy đau đớn không thể chịu đựng được. Có những hành vi cũng báo hiệu rủi ro – cô lập bản thân, tìm kiếm trên mạng các cách kết liễu cuộc đời, gọi điện hoặc đến thăm mọi người để nói lời tạm biệt, cho đi tài sản quý giá. Đôi khi, tâm trạng được cải thiện rất đột ngột có thể báo hiệu hành vi tự sát.

6. Các cam kết phòng chống tự sát có hiệu quả không?

Các cam kết chống tự tử đã tồn tại từ lâu giữa bác sĩ trị liệu và bệnh nhân như một cách để ngăn ngừa tự tử. Cam kết có thể bằng văn bản hoặc bằng lời nói, nhưng bằng cả hai cách, bệnh nhân có nguy cơ đồng ý không tự làm hại bản thân và gọi cho bác sĩ trị liệu nếu họ từng có ý định kết liễu cuộc sống của mình, hoặc gọi một số khẩn cấp như 114. Cam kết chống tự tử không phải là hợp đồng ràng buộc về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cam kết có thể thúc đẩy họ gọi điện cho chuyên gia trị liệu khi họ rơi vào các tình huống nguy cơ, thúc đẩy họ hành động khi họ rơi vào những tình huống khó khăn.

Để có thể được hỗ trợ kịp thời các vấn đề trầm cảm hay những vấn đề về sức khỏe tâm thần của bạn hay người thân đang gặp phải có thể liên hệ với chúng tôi qua Page: Viện Nghiên cứu và Thực hành Tâm lý học Lumiere hoặc với chuyên gia chăm sóc sức khỏe tâm thần gần nhất để được tư vấn.

Nguồn: Psychology Today

BT: Nhung Nguyen

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *